
Bài học phát triển một nền giáo dục hiện đại luôn là phép toán dựa trên dung hoà giữa hai yếu tố hiện thực và lý tưởng, là sự kết hợp của môi trường cạnh tranh lành mạnh với đảm bảo tính công bằng cho những thành phần yếu thế.

Quá trình toàn cầu hoá kinh tế đang đặt chính thể quản trị mỗi quốc gia vào những thế lưỡng nan. Một mặt, trước sức ép cạnh tranh, chính phủ phải đối mặt trước bài toán trưng dụng nguồn tài nguyên có hạn để tạo được hiệu quả cao nhất. Mặt khác, hiện tượng này cũng tạo nhiều thách thức mà các nhà nghiên cứu đã nêu ra như một bất toàn, hay mặt trái của tấm huân chương. Trong số đó, vấn đề giáo dục - vì đặc điểm cũng như chức năng công của mình - là đề tài được bàn luận và mổ xẻ thường xuyên nhất.
Từ góc nhìn truyền thống, giáo dục thường được xem như một loại “hàng hoá công” (public goods), cần đặt dưới sự quản lý và điều tiết của Nhà nước. Vì lẽ đó, thị trường với nguyên tắc “tối đa lợi nhuận”, “tích lũy tư bản”, “mở rộng thặng dư” sẽ là hình ảnh đối lập không khoan nhượng.
Nhưng thực tế cho thấy sự việc không bao giờ diễn ra theo một đường luôn thẳng tắp. Giáo dục ngày nay sẽ ra sao nếu vắng thị trường?
Hằng năm con số các nhà kinh doanh liên quan đến lãnh vực giáo dục ước lượng đạt đến con số gần 2000 tỷ đôla. Một số nước phát triển trên thế giới như Hoa Kỳ, Anh, Úc, Singapore đã thành công xây dựng nền kinh tế giáo dục, hay thị trường giáo dục, góp phần không nhỏ vào thu nhập tổng sản phẩm quốc gia (GDP).
Xu hướng “thị trường hoá giáo dục” dường như không thể cưỡng lại trên quy mô thế giới.
Tuy vậy, sẽ là một sai lầm khi tuyệt đối quan điểm “xem giáo dục như một hàng hoá theo quy tắc cung cầu”. Ngay cả những nước tư bản có nền kinh tế tự do nhất thế giới như Hoa Kỳ, Anh giáo dục tư chưa bao giờ là một giải pháp tối ưu nhất cho xã hội.
Kinh nghiệm một số nước khác còn cho thấy, việc khoán lại cho tư nhân tham gia cung cấp những hàng hoá mang "tính chất công" còn dẫn đến một số hệ quả tiêu cực như: bất bình đẳng xã hội, chênh lệch về chuẩn chất lượng,…

Xem xét các mô hình giáo dục được đánh giá thành công nhất thế giới ở các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Phần Lan…), một trong những điểm nổi bật là vai trò quản trị của Nhà nước với các sản phẩm giáo dục. Cũng mở rộng thị trường, tạo thế cạnh tranh giữa nhu cầu và cung cấp, nhưng Nhà nước với vai trò nhà điều tiết và phân phối thịnh vượng chung, luôn có nhiệm vụ cân bằng những lỗ hổng mà một mình thị trường không thể đảm đương, bên cạnh đó hướng tới việc đáp ứng những lý tưởng xã hội mà cả cộng đồng đang hướng tới.
Có thể nói, ở một góc nhìn nào đó, đây là một vấn đề mấu chốt trên con đường tìm đáp số cho bài toán cải cách giáo dục ở nước ta, đặc biệt khi chủ trương “xã hội hoá giáo dục” đang dần dần tăng tốc.
Bài học phát triển một nền giáo dục hiện đại luôn là phép toán dựa trên dung hoà giữa hai yếu tố hiện thực và lý tưởng. Mô hình các nước Bắc Âu thành công, vì họ đã biết hiện thực hoá những lý tưởng, cũng như biến lý tưởng làm ngọn hải đăng soi đường để định hướng mọi con tàu “hiện thực”.
Chúng ta thường nói về nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với hàm ý “phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”.
Kinh tế thị trường là thực tế, xã hội chủ nghĩa là lý tưởng, cân bằng hai yếu tố này trong sự nghiệp phát triển giáo dục đồng nghĩa phải tạo được một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho những sản phẩm giáo dục, song song với việc Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc điều tiết và quản lý, đảm bảo tính công bằng cho những thành phần yếu thế nhất ở cộng đồng.
Đó chính là con đường song hành giữa hiện thực và lý tưởng: “giáo dục thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” mà chúng ta cần hướng đến!
Nguyễn Chính Tâm (nhân ngày khai trường 5/9/2008) / Tuần Việt Nam
Mục tiêu và nội dung giáo dục của thế kỷ XXI
Thế kỷ 20 vừa đi qua đã là một thế kỷ của nhiều đổi thay to lớn trong cuộc sống của loài người, từ những đổi thay trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội,... cho đến những đổi thay trong tư tưởng và nhận thức của con người về chính cái thế giới đang liên tục đổi thay đó. Và, loài người chúng ta, bước sang thế kỷ 21, đã mang theo mình gần như nguyên vẹn mọi thứ đang thay đổi dở dang hoặc đang đòi được thay đổi đó, trong thế giới cũng như trong chính đầu óc của mình.
Vậy thì, để sống được trong thế giới ở cái thế kỷ 21 này, con người cần có những hiểu biết gì, những năng lực gì? Đó phải là những câu hỏi đặt ra cho chúng ta khi xác định mục tiêu và nội dung cho giáo dục của thế kỷ 21.
Mục tiêu của việc học, hay mục tiêu của nền giáo dục mà ta đang hướng tới, phải là (hay nên là) hình thành và phát triển con người Việt Nam trong thế kỷ 21 có các phẩm chất chủ yếu:
a. Có những hiểu biết cơ bản về tri thức của thời đại, đồng thời có những cảm thụ sâu sắc đối với tinh hoa của truyền thống văn hóa dân tộc, trên cơ sở đó thường xuyên rèn luyện một năng lực tư duy độc lập, cụ thể hơn là một tư duy phê phán và tư duy sáng tạo, cơ sở của một năng lực thích nghi và sáng tạo trong môi trường mới luôn biến động của cuộc sống;
b. Có ý thức trách nhiệm trong cuộc sống và một đạo đức cộng đồng, cụ thể hơn là có ý thức trách nhiệm của một con người và một công dân (đối với gia đình, với cộng đồng, với đất nước, với thế giới, với thiên nhiên...).
Nội dung và chương trình giáo dục: Phải thừa nhận rằng trong thế kỷ 20 vừa qua trong hầu khắp mọi lĩnh vực nhận thức của loài người đã có những biến đổi to lớn, những biến đổi đó đang làm nên những thay đổi căn bản trong cách nhìn, cách hiểu, và cả cách sống của con người trong thế giới hiện tại. Mặt khác, càng hướng đến tương lai, ta lại càng tiếc nuối nhìn về quá khứ, mới thấy rằng ngày trước khi mê say “tân học” ta đã vô tình vứt bỏ luôn nhiều di sản quí báu của các thế hệ cha ông; để rồi đến nay, mới chợt hiểu ra để trở thành con người “Việt Nam hiện đại” không thể không có những tố chất nào đó của một nền văn hoá truyền thống của dân tộc.
Chính vì vậy, tôi nghĩ rằng trong công cuộc cải cách và đổi mới giáo dục hiện nay của chúng ta, ta cần đầu tư nghiên cứu một cách thấu đáo để xây dựng chương trình và nội dung dạy học trên cơ sở ba nguồn tri thức chủ yếu:
1. nguồn tri thức từ trong các triết thuyết cổ phương Đông cùng với những tinh hoa trong văn hoá và giáo dục truyền thống của dân tộc,
2. nguồn tri thức khoa học của nền văn minh công nghiệp, vốn là phần chủ yếu trong chương trình hiện hành của nền giáo dục nước ta, và
3. nguồn tri thức từ các lý thuyết “khoa học mới” đang và sẽ có tác động lớn đến cuộc sống con người trong thế kỷ mới và tương lai.
Tất nhiên, các nguồn tri thức đó không phải được dạy và học một cách riêng rẽ, mà cần được kết hợp một cách nhuần nhuyễn để tạo nên nội dung của một chương trình giáo dục thống nhất phù hợp với các quan điểm mới về tư duy và nhận thức hiện nay.
Cần dựa trên cơ sở chương trình giáo dục và hệ thống sách giáo khoa hiện có vốn đã được biên soạn rất công phu mà tiến hành việc cải cách từng bước một cách thận trọng, được nghiên cứu và trù tính công phu trên một quan điểm hệ thống và hiện đại về sự phát triển của con đường nhận thức, sự liên kết của các ngành kiến thức và những hiểu biết mới về vị trí và tác động của tri thức nói chung, và của khoa học nói riêng trong thời đại ngày nay.
(Tia sáng)
Khủng hoảng giáo dục: Di sản tri thức và bất cập tâm thức
Với một di sản tri thức của nền học vấn làm quan, những bất cập nội tại bấy lâu chưa có dịp bộc lộ lúc xã hội còn khép kín thì nay đã và đang phát tác khi chúng ta phải mở cửa và tiếp xúc để hội nhập.
Ngạn ngữ Việt Nam có một câu mang đầy tinh thần tự phê phán: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” cho thấy các cụ ta ngày trước rất coi trọng cái dũng khí dám bộc bạch, dám nói về cái sai, cái yếu kém của bản thân để tự sửa mình.
Trước thực trạng đáng lo ngại của nền giáo dục nước nhà chúng ta hãy thử (dù chỉ là một lần ) làm cái việc mà ngày nay không có mấy người hào hứng lắm, đó là “tiên trách kỷ” một cách nghiêm túc.
Đã có nhiều góp ý tâm huyết và những kiến nghị có nội dung sâu sắc, sáng tạo mang tính xây dựng của các nhà giáo, nhà hoạt động xã hội, nhà khoa học, nhà quản lý và nhiều người dân ở trong cũng như ngoài nước về đề tài nóng bỏng này nhằm tìm một lối ra cho cuộc khủng hoảng giáo dục hiện nay, ngõ hầu đưa đất nước bắt kịp với tốc độ chóng mặt của chuyến tàu hội nhập.
Nhưng trên thực tế, thời gian cứ trôi đi như “bóng câu qua cửa sổ“ mà chưa thấy nhiều chuyển biến sâu rộng như mong đợi, khiến dư luận xã hội từ sốt ruột đã chuyển sang tâm lý ngày càng thêm bức xúc.
Trên mặt báo hàng ngày có thể bắt gặp những tin đại loại như “học sinh bỏ học hàng loạt” hay “giáo dục đại học phát triển tràn lan, coi nhẹ chất lượng”, “bệnh thành tích“, “dạy thêm, học thêm”, “chương trình quá tải, nhồi nhét, lạc hậu, xa rời thực tế“, “nạn chạy điểm, chạy trường”, “gian lận trong thi cử” … Cuối cùng thì xã hội có xu hướng quy kết trách nhiệm vào các cấp lãnh đạo của ngành giáo dục và dường như mấu chốt để giải quyết vấn đề đã được tìm ra!
Có điều là nếu nhìn sang lĩnh vực y tế ta sẽ thấy một khung cảnh cũng rất bề bộn với tình trạng các bệnh viện quá tải, người nghèo không thể tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh và thuốc điều trị tốt vì thu nhập còn rất eo hẹp, y đức ở một bộ phận không nhỏ y, bác sĩ xuống cấp nghiêm trọng… Ngó vào lĩnh vực giao thông cũng thấy rất nhiều bất cập và bức xúc…
Có lẽ chương trình truyền hình trong thời khắc tiễn biệt năm cũ là “Táo Quân chầu Trời“ đã thành công nhờ khắc họa một cách bao quát và dí dỏm thực trạng nhiều mặt của xã hội Việt Nam thời nay theo phong cách truyền thống dân tộc rất đỗi tự trào. Đó cũng là một kiểu “trách kỷ“ có văn hóa.
Nền học vấn để làm quan
Một khi động đến lĩnh vực nào cũng thấy nhiều bất cập, bức xúc và những biểu hiện của sự xuống cấp về đạo đức thì chắc chắn nền văn hóa của xã hội đang có vấn đề. Người Việt ta vốn rất tự hào vì có một truyền thống văn hiến ngàn năm khiến các nước láng giềng ASEAN phải ngưỡng mộ nhưng ngày nay phỏng có mấy trường đại học Việt Nam đạt chuẩn khu vực và số bài báo khoa học của cả nước được đăng trên các tạp chí có uy tín quốc tế liệu có nhiều hơn con số đó của riêng một đại học Thái Lan? Số bằng phát minh sáng chế đăng ký với thế giới trong cả lĩnh vực khoa học cơ bản và ứng dụng hàng năm có chăng chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong khi một công ty LG của Hàn Quốc đã sở hữu tới con số hàng trăm!
Đã từ lâu rồi chúng ta vẫn tự huyễn mình rằng dân ta rất cần cù, thông minh và trọng tri thức. Phải, có lẽ đúng là như vậy. Nhưng cũng xin đưa ra một so sánh thống kê: theo nhà văn hóa Phan Ngọc, khi tìm hiểu thư mục di sản văn hóa Hán Nôm Việt Nam thì trong số 6000 quyển sách tạm gọi là tiêu biểu cho tâm thức của trí thức Việt Nam trước khi tiếp xúc với văn hóa Pháp có quá nửa là sách học để đi thi, các bài mẫu, các sách giảng về các kinh truyện, các bài thơ phú viết theo lối văn chương hàn lâm. Không có cách nào chối cãi đây là một nền học vấn để làm quan!
Phần còn lại theo những thư mục như sau: Chính trị 99 quyển nói về bang giao, quan chức; Địa lý 267 quyển nói về bản đồ, địa lý toàn quốc, địa lý địa phương; Kinh tế gồm 90 quyển nói về nông nghiệp, thủ công nghiệp; Lịch sử 964 quyển gồm các quyển sư, các sử liệu, các gia phả; Binh thư có 23 quyển; Tôn giáo, tư tưởng có 898 quyển; sách y dược có 395 quyển.
Và như vậy không có một quyển nào nói về thương nghiệp, về kỹ thuật chế tạo công cụ sản xuất hay máy móc, tàu bè… Đây là cách nhìn quan lại, không phải cách nhìn của người sản xuất.
Tuy nói là trọng nông, nhưng trong 70 quyển thuộc loại nông nghiệp có 9 quyển nói về địa bạ, 4 quyển về cách kê khai ruộng đất, 5 quyển về đê điều, 18 quyển về việc đóng thuế, còn lại là nói về các thổ sản. Toàn bộ kinh nghiệm nông nghiệp của một nước cực kỳ phong phú về mặt này đã không được nhắc đến.
Trong sách về thủ công nghiệp chỉ thấy nói về tiểu sử các ông thành hoàng các nghề, có sự liên kết các nghề ở từng địa phương nhưng không có một chỉ dẫn nào về kỹ thuật trong khi người thợ thủ công Việt Nam nổi tiếng với bàn tay vàng khéo léo. Không có sách dạy nấu ăn tuy các cụ rất thích ăn ngon và cũng chỉ có vài quyển nói về tạc tượng Phật (Theo Phan Ngọc - Bản sắc văn hoá Việt Nam - NXB Văn học, Hà Nội 2006).
Trong thời Pháp thuộc tình hình cũng không thay đổi bao nhiêu. Mấy chục năm tranh thủ được sự giúp đỡ to lớn của các nước thuộc phe XHCN đã tạo nên một nền khoa học và giáo dục có tiến bộ vượt bậc, đặc biệt là các môn khoa học cơ bản nhưng về công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến và thương mại, khoa học quản lý kinh tê ́- xã hội, nhân văn thì rõ ràng còn khoảng cách khá xa khi so sánh với các nước phương Tây.
Như vậy là truyền thống trí thức Việt Nam có đặc điểm thiên lệch về các môn chiêm nghiệm, ít phát triển các môn khoa học thực chứng, do đó lối suy nghĩ giáo điều, thiếu khách quan, sáo mòn, thuộc lòng từ chương nặng về thi cử và lý thuyết suông, xa rời sản xuất vật chất và hiệu quả lao động, học để làm quan cho oai đã ăn sâu vào não trạng nhiều thế hệ người Việt.
Với một di sản tri thức như vậy, những bất cập nội tại bấy lâu nay chưa có dịp bộc lộ lúc xã hội còn khép kín thì nay đã và đang phát tác khi chúng ta phải mở cửa và tiếp xúc để hội nhập.
Sự bất cập từ trong tâm thức
Còn một đặc điểm gây trở ngại ghê gớm cho sự tiến bộ đó là tư duy và hành động của anh tiểu nông. Chính lối nghĩ trọng nam khinh nữ đã là nguyên nhân của áp lực dân số đè nặng lên nền giáo dục và y tế đang thiếu phòng học và giường bệnh.
Tư tưởng nông dân làm ăn theo mùa vụ là khởi nguồn cho lối tư duy nhiệm kỳ và nề nếp phong kiến gia trưởng thiên về áp đặt là cha đẻ của lối hành xử mất dân chủ trong sinh hoạt gia đình và xã hội. Không hiếm trường hợp tư duy “đồng hương, đồng khói và vùng, miền” đã làm nảy sinh căn bệnh bè phái hay các nhóm quyền lợi tác yêu tác quái.
Còn nhiều lắm những hệ lụy của di sản văn hóa - lịch sử rất oai hùng mà cũng lắm đau thương, nhưng điều cần rút ra từ đây là nguyên nhân của mọi sự bất cập nó nằm ngay trong tâm thức chúng ta, tức là ngay trong tôi, trong anh dù anh có phê phán người này người nọ thì những khuyết điểm, sai lầm mà anh lên án đều có mầm mống trong anh vì cả anh và tôi đang được “nhúng” vào cùng một môi trường văn hóa.
Đã có lần nhà sử học của kinh tế thế giới, vị giáo sư danh dự trường đại học Havard David Landes nói: “cho dù một quốc gia với bề dày văn hóa nhưng kiêu ngạo và bảo thủ thì quốc gia đó cũng không thể đứng vững mãi mãi. Thái độ cần có ở đây là tôn trọng tri thức, dù đến từ bất cứ đâu. Ánh sáng tri thức chính là yếu tố văn hóa đem lại sự thịnh vượng kinh tế.” Mà xét cho đến cùng thì tri thức chỉ sản sinh ra ở nơi nào nó được quý trọng và tự do phát triển, hiển nhiên là nơi đó cũng sẽ song hành một nền giáo dục tiên tiến.
TS. Phạm Gia Minh / Tuần Việt Nam
Đôi điều về chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam
Toàn văn bản chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam dài 23 trang, trong đó hai trang rưỡi đầu là một bản thành tích tô hồng và khẳng định những thành tích này đã đóng vai trò quan trọng trong nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Nhưng trái ngược hẳn với bản thành tích tô hồng nói trên, chiến lược đã vạch ra 5 yếu kém bao gồm:
1- Nội dung và phương pháp giảng dạy ở các cấp nặng nề, thiếu thực tiễn, không phù hợp với khả năng và nhu cầu của học sinh.
2- Có sự mâu thuẫn chạy theo số lượng và chất lượng, dẫn đến hành vi dối trá: muốn mở trường họ khai bịa có nhiều tiến sĩ, thực ra chỉ có một!
3- Hệ thống giáo dục thiếu cân đối, chưa chú trọng đến nhu cầu nhân lực của xã hội (thừa thầy kém, thiếu thợ giỏi).
4- Đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được nhiệm vụ trong thời kì mới.
5- Cơ sở vật chất của các trường còn nghèo nàn và lạc hậu.
Để khắc phục những bất cập của giáo dục hiện nay, bản chiến lược liệt kê 11 giải pháp có tính đột phá gọi là những giải pháp chiến lược.
Theo văn bản này thì cứ vấn đề nào lớn, có tầm quốc gia, tác giả đều gọi là chiến lược. Vậy ta nên hiểu từ chiến lược thế nào cho đúng?
Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Vì sự nghiệp trăm năm phải trồng người’’ thì Người đã coi giáo dục có tầm chiến lược cho tương lai của đất nước. Vì thế Người đã chọn những trí thức lớn có tâm và có tầm như Đặng Thai Mai, Vũ Đình Hòe, rồi Nguyễn Văn Huyên làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Sau này, nhà trí thức lớn Tạ Quang Bửu được cử làm Bộ trưởng Đại học, và với tầm nhìn chiến lược, Ông đã chọn những người giỏi có nhiều triển vọng để đào tạo nhân tài cho đất nước. Nhưng những kẻ cơ hội tả khuynh lại ghép ông cùng với nhà bác học Lê Văn Thiêm vào tội thiếu lập trường giai cấp và theo “thiên tài chủ nghĩa’’.
Sau này mặc dù Đảng và Nhà nước vẫn luôn khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, nhưng vì một lý do nào đó, lại bố trí không ít người phụ trách ngành giáo dục ở các cấp có tâm nhưng thiếu tầm, thậm chí thiếu cả tâm lẫn tầm. Đó chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến nền giáo dục nước ta suy thoái ngày càng nặng nề.
Tôi nghĩ rằng ông Bộ trưởng giáo dục hiện nay không thiếu tâm, thiếu tầm nhưng do phải kiêm nhiệm một chức vị quan trọng hơn, và hẳn thường xuyên bận vào những sự vụ khác nên không thể toàn tâm toàn ý cho ngành giáo dục, thậm chí chưa chắc có nhiều thời gian để suy nghĩ thấu đáo về bản chiến lược này. Do vậy trong chiến lược mới đề ra những giải pháp thiếu tính khả thi, chẳng hạn như làm sao có được những giáo sư đại học Việt Nam có trình độ cao để thực hiện được việc xây dựng 4 trường đại học Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế vào năm 2015 (tức 6 năm nữa). Nhất là với kế hoạch đến năm 2020 sẽ đào tạo 2 vạn tiến sĩ, thì tôi thấy chính những người xây dựng bản chiến lược này cũng lại mắc bệnh thành tích, bệnh chạy theo số lượng.
Hoa Kỳ hiện nay là nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, năm nào cũng có các nhà khoa học nhận giải thưởng Nobel .Giả thử ông gửi sang Mỹ 1 vạn cử nhân nhờ họ đào tạo thành những người tài cho đất nước, thì những em nào chịu khó chăm chỉ học tập có thể thành người tài thật. Còn nếu ông đặt hàng hãy đào tạo cho tôi 1 vạn tiến sĩ trong 5 năm thì đến hạn họ sẵn sàng trả cho ta đủ 1 vạn người có bằng tiến sĩ, nhưng tiếc thay bằng thì thật, còn người có bằng chưa chắc đã thật. Tình trạng cũng tương tự như trước đây ta nhờ Liên Xô đào tạo cho kĩ sư và cử nhân: đến hạn các thầy Liên Xô sẵn sàng giúp đỡ, thậm chí làm hộ luận án để cháu nào về nước cũng có bằng đại học mà không viết nổi một câu tiếng Nga, thậm chí một bài tiếng Việt.
Đối với một bệnh mạn tính kéo dài hàng mấy chục năm của ngành giáo dục Việt Nam, thì không thể có một phương thuốc tiên dứt bệnh ngay được, lại không thể liệt kê trải mành mành 11 giải pháp, trên thực tế chỉ là 11 việc trong kế hoạch dài hạn của ngành giáo dục. Suy nghĩ kĩ, tôi thấy khâu quan trọng nhất, khâu đột phá có thể tác động đến toàn ngành giáo dục, không ai khác chính là người thầy. Bởi vì suy cho cùng thì người trực tiếp lên lớp, soạn bài giảng, cải tiến phương pháp sư phạp, cải tiến chương trình, biên soạn sách giáo khoa cũng là người thầy, một mình ông Bộ trưởng Giáo dục dù giỏi đến đâu cũng không làm được. Muốn vậy phải khôi phục truyền thống tôn sư trọng đạo của toàn xã hội đối với người thầy. Cần coi người thầy là một trí thức có nhiệm vụ cao quý, là người tác động đến tâm hồn và trí tuệ của lớp trẻ, tạo điều kiện vật chất và tinh thần để họ không bắt học sinh học thêm, hoặc nhận quà biếu của phụ huynh, mà có thì giờ để đọc sách học thêm trau dồi đạo đức, nghề nghiệp, và không nên xếp họ vào thang cuối cùng của xã hội ( công, nông, binh, trí ).
Ngày nay, sự yếu kém của nền giáo dục quốc dân không chỉ giới hạn ở nhà trường. Nó đã ảnh hưởng đến đạo đức của toàn xã hội với những tiêu cực lớn nhỏ nhan nhản trên báo chí hằng ngày. Một cơ trưởng lái máy bay hẳn đã học xong bậc đại học, lại cùng với mấy lưu học sinh tham gia vào các vụ ăn cắp vặt ở Nhật Bản, thật là một quốc sỉ cho một dân tộc anh hùng! Bởi vì mỗi trẻ em được cha mẹ dạy tốt rồi, đến trường cũng được dạy tốt, vẫn có thể bị ảnh hưởng tai hại của xã hội mà trở nên hư đốn. Vấn đề to lớn và quá khó khăn này, chắc chỉ khi những vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước có quan tâm thì may ra mới giải quyết được.
GS.NGND. Nguyễn Văn Chiển / Tia Sáng