
Giáo sư kinh tế danh dự Đại học Harvard David Landes trò chuyện với chuyên gia kinh tế chính trị Francis Fukuyama xoay quanh chủ đề VĂN HÓA và CỦA CẢI để trả lời cho câu hỏi: “Tại sao một vài xã hội giàu lên trong khi các xã hội khác thì không?"
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà khả năng tăng trưởng kinh tế đã trở thành một chủ đề trọng tâm của an ninh quốc gia. Mặc dù các nhà phân tích không tin rằng nghèo đói là thủ phạm trực tiếp của nạn khủng bố và rằng tăng trưởng mạnh đang dần chững lại, dư luận dường như đồng tình với nhận định rằng để duy trì đời sống chính trị trên những bậc cao hơn, chẳng hạn như tự do và dân chủ, chúng ta cần tới lượng của cải vật chất tối thiểu.
Francis Fukuyama gần đây đã có buổi trao đổi với nhà sử học, kinh tế học đồng thời là tác giả nổi tiếng David Landes về những chủ đề thú vị trên cho The American Interest.
American Interest (AI): Qua nhiều năm, các học giả trong đó có ông đã dày công nghiên cứu câu hỏi “Tại sao một vài xã hội giàu lên trong khi các xã hội khác thì không.” Vì thế có lẽ chúng ta nên bắt đầu buổi nói chuyện với mảng đề tài hóc búa nhất của câu hỏi trên, đó là văn hóa và phát triển kinh tế.
Mười năm trước, chúng ta đã cùng dự một buổi hội thảo tài trợ bởi Lawrence Harrison và Samuel Huntington, đồng tác giả của cuốn sách Culture Matters (2001).
Ông đóng góp một chương trong cuốn sách với tiêu đề “Văn hóa tạo nên hầu hết những sự khác biệt”, nhưng không phải ai cũng đồng tình với cái tiền đề ẩn chứa trong tiêu đề đó.
Ông Jeffrey Sachs, cũng có mặt trong hội thảo, phát biểu về tác động của việc “sau khi chúng ta tính toán tất cả các phép hồi quy kinh tế lượng, có vẻ như là yếu tố văn hóa đã bị gột sạch, chỉ còn lại tàn dư, và vì thế văn hóa không đóng vai trò quá quan trọng.”
Sachs cùng với Jared Diamond đã đóng góp nhiều trong những năm gần đây để trả kinh tế về với phạm trù cố hữu của nó, một phạm trù sử dụng các yếu tố như bệnh tật, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nước, v..v để lý giải tại sao có nước giàu nước nghèo. Tất nhiên là ông không tán đồng, ông có thể nói rõ quan điểm của mình được không?
David Landes: Vâng, xin bỏ qua vấn đề cá nhân, bởi Jeff từng là học trò cùa tôi. Tôi đồng tình rằng địa lý và khí hậu tạo nên sự khác biệt. Không phải là ngẫu nhiên mà châu Phi lại nghèo đến vậy.
Không phải là ngẫu nhiên khi các doanh nghiệp ưa làm kinh doanh tại những địa điểm thuận lợi. Vì vậy khí hậu vẫn có ý nghĩa quan trọng. Tiền cũng vậy, vì thế chúng ta biết tới nhiều người chu du tới những miền đất có tiềm năng kinh tế, kể cả khi khí hậu không tốt.
Và điều này thực ra là một hàm địa lý, chẳng hạn như nguồn nguyên liệu ở đâu, sông và cảng để vận chuyển nguyên liệu thô ở đâu.
Chúng ta có thể hiểu được tại sao nhiều nước, cho dù còn nhiều bất cập về thể chế, vẫn sung túc bởi họ sở hữu những tài nguyên mà các nước khác muốn mua.
Vì thế văn hóa không liên quan đến vấn đề may mắn, nhưng may mắn lâu dài thì có. Khi một xã hội có nguồn tài nguyên dồi dào sản sinh ra của cải, xã hội đó có thể duy trì sự thịnh vượng. Nhưng khi tài nguyên cạn kiệt và lượng đầu tư không còn, đất nước đó sẽ trở về con số không.
Văn hóa không phải là tất cả vấn đề, nhưng rất có khả năng chính là sự khác biệt lâu dài nhất. Điều này là do khả năng tạo dựng tính cách của văn hóa. Nó khắc họa cách các thành viên của xã hội tạo dựng vị thế của chính mình và cách họ liên hệ với thế giới bên ngoài.
Thực ra những xã hội thành công dựa vào sức mạnh văn hóa lại là những xã hội có khả năng cuốn hút lượng nhập cư có tài và có tâm.
Họ có khả năng đào tạo những tài năng trẻ từ thế hệ này sang thế hệ khác để xã hội luôn tiến bộ cả về mặt văn hóa lẫn xã hội. Vì thế văn hóa có vai trò cực kì quan trọng.
Tôi tin rằng đó chính là yếu tố tạo nên sự tất cả các sự khác biệt. Một dạng phân tích hồi quy có thể đánh giá thấp tác động của văn hóa trong tương lai gần, nhưng về lâu dài, một phân tích khôn ngoan hơn có thể đánh giá thấp tác động của tất cả các yếu tố khác ngoại trừ văn hóa.
AI: Liệu đặc điểm địa lí vẫn là quan trọng trong quyết định gây dựng các cơ quan hay không? Một trong những bài luận được trích dẫn nhiều nhất trong thập kỉ gần đây là của James A. Robinson, Daron Acemoglu và Simon Johnson về nguồn gốc thuộc địa của các thể chế nhà nước.
Về căn bản, bài viết tranh luận rằng người châu Âu thiết lập các cơ quan ở bất cứ nơi nào họ đến, nếu gánh nặng bệnh tật kìm hãm việc định cư, họ sẽ tận dụng nguồn tài nguyên của khu vực đó nhưng không để lại thể chế chính quyền nào.
Không kể tới câu chuyện thuộc địa, liệu chúng ta đưa ra một nhận định chung rằng nơi phát triển của một nền văn hóa thiên về tăng trưởng phụ thuộc vào đặc điểm chính trị ở một mức độ nào đó?
David Landes: Vai trò to lớn của đặc điểm địa lí là vấn đề không cần phải bàn cãi, nhưng một lần nữa, đây không phải là sự khác biệt trường cửu. Một lần tôi đã nghiên cứu sự khác biệt giữa các quốc gia phương Tây, tại sao một số nước phương Tây lại hơn các nước khác nhiều đến vậy.
Rõ ràng là tại một thời điểm, những quốc gia ở khu vực Địa Trung Hải và nam Âu phát triển hơn, chẳng hạn như Ý, đặc biệt là Venice, Catalonia và Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Nhưng về lâu dài, ngọn gió thành công và của cải thổi xuống phía nam, đầu tiên là tới Các tỉnh Liên hiệp và cuối cùng là Scandinavia. Chính từ những tìm tòi này, tôi quyết định rằng yếu tố văn hóa là tận cùng của vấn đề, chứ không phải là các yếu tố khác.
Sau đó tôi hiểu ra rằng điều này cũng áp dụng cho các nơi khác trên thế giới. Nhưng nơi số 1 hiện nay trên thế giới hoặc là tiền đồn của phương tây hoặc là những vùng với nền văn hóa cổ xúy sự phát triển của riêng họ, chẳn hạn như Nhật Bản.
Và tất nhiên, văn hóa không không phải là thể tĩnh. Có lẽ điều quan trọng nhất chúng ta cần phân biệt là nét tiềm ẩn cơ bản của văn hóa không chỉ đơn giản đến mức nó có thể làm đăng quang bất cứ cấu trúc chính trị nào.
Cho dù một quốc gia với bề dày văn hóa nhưng kiêu ngạo và bảo thủ, quốc gia đó cũng không thể đứng vững mãi mãi. Thái độ cần có ở đây là tôn trọng tri thức, dù đến từ bất cứ đâu. Ánh sáng tri thức chính là yếu tố văn hóa đem lại sự thịnh vượng kinh tế.
Văn hóa cũng có thể lí giải nhiều khía cạnh của rất nhiều vấn đề tại Trung Đông. Tại một thời điểm đế chế Hồi giáo nắm giữ những nền văn minh dẫn đầu của thế giới, nhưng sự tự kiêu văn hóa ngày nay đã trở thành rào cản lớn đối với việc học hỏi từ bên ngoài.
Và bản chất của đạo Hồi cũng hạ thấp khả năng đóng góp cho xã hội của một nửa dân số: Phụ nữ. Thành kiến này cũng ảnh hưởng tiêu cực tới sự đóng góp của nam giới, bởi nó khiến nhiều người tin rằng bản thân vị thế đàn ông đã là sự xác nhận đầy đủ của quyền lực.
Chính tính tự tôn của nam giới cùng với khả năng bạo hành, đánh đập hay xâm phạm nhân phẩm người khác ở bất cứ giá nào, đã làm giảm đi những kì vọng mà văn hóa tạo ra cho trình độ học vấn và khả năng kinh tế của nam giới.
Rộng hơn thế, điều này có những tác động lớn hơn. Nếu một doanh nhân muốn đầu tư tiền vào một dự án lâu dài, một dự án đòi hỏi không chỉ việc khai thác tài nguyên, họ có lẽ sẽ ưa đầu tư tại Trung Quốc hoặc Nhật Bản hơn. Đây là lợi thế lớn bởi các xã hội này có khả năng rút kinh nghiệm từ chính bản thân họ và có tinh thần học hỏi từ các nước bạn.
AI: Liệu có khả năng là quá nhiều chú trọng vào khía cạnh văn hóa có thể đôi lúc khiến chúng ta trở nên lạc mục tiêu? Khoảng 100 năm trước, quan điểm của nhiều người về châu Á là hoàn toàn đối lập. Và Trung Quốc khi đó còn nghèo, với dân số khổng lồ.
Như ông cũng biết, Max Weber tranh luận trong một cuốn sách về đạo Khổng và đạo Giáo rằng sự chú trọng tới yếu tố gia đình đã phần nào ngăn cản khả năng phát triển các thể chế hiện đại. Nhưng ngày nay tất cả mọi người tin rằng văn hóa Trung Quốc thực ra là nguồn sức mạnh của tăng trưởng hiện đại.
David Landes: Nền văn hóa Trung Quốc từng có thời không thân thiện với chủ nghĩa tư bản hiện đại. Nhưng nhu tôi đã nói ở trên, văn hóa không phải là một phạm trù tĩnh. Xem xét tình hình Trung Quốc trong những thế kỉ trước, Weber và các học giả khác đã đúng khi nhìn thấy những bất cập, đặc biệt là sau những tiền đề đỉnh cao mà Trung Quốc đã đạt được từ những thế kỉ trước đó.
Thời gian biến đổi mọi thứ. Khi Trung Quốc nhìn vào ví dụ của một Nhật Bản vào thế kỉ 19 và sau thế chiến II, và ví dụ về những doanh nhân Trung Quốc tại Singapore, họ có thể rút ra những bài học cho chính mình. Trung Quốc đã đi một chặng đường dài với những nỗ lực đặc biệt để tiến bước trên con đường phát triển.
Một lần nữa, sự đối lập của thế giới Hồi giáo để lại nhiều bài học cho chúng ta. Họ đã đạt được những đỉnh cao rực rỡ trong một thời gian dài sau thời Muhammad, nhưng mất đi vị thế ấy không phải bởi tôn giáo, mà vì sự lơ là đối với những phẩm hạnh như sự tha thứ và sự kính trọng tri thức, từng là yếu tố đưa họ tới vị thế dẫn đầu.
Rất nhiều người Hồi giáo ý thức được sự cần thiết của việc khôi phục những giá trị đó, nhưng sẽ là khó khăn để bộc lộ những suy nghĩ đó trong một xã hội còn dè dặt trước những quan điểm mới.
(Còn nữa)
Bài báo được đăng tải trên The American Interest.
Nguồn tài liệu: trang viet-studies.info
Catherine Trần (dịch) / Tuần Việt Nam
Vài nét về David Landes và Francis Fukuyama
Ông là tác giả các cuốn sách Revolution in Time, The Unbound, Prometheus, The Wealth and Poverty of Nation và Dynasties.
David Landes được ca ngợi là đã nhà "sử học" của nền kinh tế thế giới. Ông có đóng góp đáng kể trong việc phân tích, lý giải và phản biện sự phát triển thần kỳ của các kinh tế ở khu vực Châu Âu.
Cha ông là Yoshio Fukuyama, là người Mỹ gốc Nhật thuộc thế hệ thứ hai, có bằng tiến sĩ xã hội học tại trường Đại học Chicago.
Mẹ của ông, Toshiko Kawata Fukuyama sinh ra tại Kyoto, Nhật Bản. Bà là con gái của Shiro Kawata, người sáng lập Khoa Kinh tế, trường Đại học Kyoto, đồng thời là Chủ tịch đầu tiên của trường Tổng hợp Osaka, tại Osaka.
Fukuyama lớn lên ở thành phố New York. Năm 1967, cả gia đình ông chuyển đến Pennsylvania và ông theo học trung học tại đây.
David Landes: "Kẻ thù lớn nhất của thành công là thành công"
"Văn hóa đóng vai trò to lớn nhất khi người ta lùi bước để nhìn vào bức tranh lịch sử rộng lớn hơn, để thấy rằng kẻ thù lớn nhất của thành công, cuối cùng chính là thành công. Kẻ thù lớn nhất của của cải là quá nhiều của cải".
AI: Hãy cùng nói về nước Mỹ trong phạm trù thay đổi văn hóa. Những cuốn sách của ông khắc họa những chân dung của các cá nhân ông nhận định là sự hiện thân của giáo lý Tin lành, chẳng hạn như Andrew Carnegie và John D. Rockefeller. Nhưng câu chuyện nổi tiếng về Rockefeller cả đời chỉ có độc một bộ véc mặc đến khi sờn lại không phải là những kiểu chuyện chúng ta nghe về các CEO ngày nay. Họ dường như không mang trong mình đức tính khổ hạnh ấy, mà dường như trái ngược.
David Landes: Chúng ta nên nhắc nhở bản thân rằng cho dù với sự đạm bạc ngày nay, số người ném tiền qua cửa sổ vẫn nhiều hơn số người tiết kiệm tiền. Không phải tất cả người giàu đều chắt chiu đâu. Với tôi, điều khác biệt thực sự, nếu có, chính là sự ý thức về trách nhiệm đối với xã hội. Ngày nay rất nhiều vị CEO giành thời gian nghĩ cách tiêu tiền. Nhà Rockefellers và Carnegies giành thời gian tạo dựng các quỹ từ thiện và giành tài sản của họ vào những mục đích cao cả. Cho dù không phải là tất cả, nhưng rất nhiều người giàu hiện nay là nhà từ thiện.
AI: Tôi vẫn tò mò về sự liên quan giữa các đạo lí Tin lành và thành công của nước Mỹ. Nếu nhìn chung các giá trị Tin lành không còn tồn tại trong lòng giới tinh hoa của nước Mỹ, hay thậm chí trong cả tổng thể dân số, thì chúng ta sẽ không còn là một xã hội của những người da trắng, Anglo – Saxon và mang tính Tin lành nữa. Ông có nghĩ điều này sẽ ảnh hưởng xấu tới thành công kinh tế của nước Mỹ trong tương lai không?
Nếu không, điều này có chứng tỏ là các giá trị Tin lành từ đầu đã không mấy quan trọng? Ông vẫn có thể là một doanh nhân tại thung lũng Silicon, ngập chìm trong trò chơi điện tử, nghĩ giữa chừng trong giờ làm để ngồi thiền, mà vẫn kiếm ra hàng núi tiền chỉ bởi vì ông thông minh và có môi trường kinh tế tốt. Có lẽ văn hóa và đạo đức làm việc không liên quan gì tới điều đó.
David Landes: Nhưng doanh nhân mà ông miêu tả đó có tạo ra một thể chế tích cực hay không? Văn hóa đóng vai trò to lớn nhất khi ông lùi bước để nhìn vào bức tranh lịch sử rộng lớn hơn. Những gia đình biến của cải thành triều đại là rất hiếm, vì một lí do đơn giản: đó là điều cực khó. Kẻ thù lớn nhất của thành công, cuối cùng chính là thành công. Kẻ thù lớn nhất của của cải là quá nhiều của cải. Cuốn sách Dynasties (2006) của tôi nhấn mạnh rằng các gia đình học cách truyền đạt những giá trị và thói quen cho thế hệ con cháu của họ.
Phần lớn các gia đình như Barings và Morgans có cả hai dạng con cháu: Những người làm kinh doanh và làm ra tiền, song song với những người chỉ biết tiêu tiền hoặc dùng tiền vào những mục đích ngoài kinh doanh. Không có nhiều gia đình với những người đủ khôn ngoan và đức độ để khiến các thế hệ sau ngày càng giàu hơn.
AI: Điều đó khiến tôi nhớ đến một câu chuyện cũ. Một tổ chức tên là Family Firm Institute chuyên chú trọng tới các gia đình khá giả từng mời tôi đến nói chuyện tại một trong những hội nghị thường niên của họ sau khi tôi cho ra đời cuốn Trust (1995).
Tôi đã rất ngỡ ngàng khi biết được một nửa thành viên tham gia hội thảo bày tỏ lo ngại về việc tư vấn tâm lí cho thế hệ thứ 2 và thứ 3 của những doanh nhân giàu có. Câu hỏi đặt ra là làm sao để xử lí gánh nặng tâm lí của việc không đáp ứng được kì vọng của bố mẹ, hay thừa kế của cải và tiêu tốn chúng.
Rất may là con cái của tôi không phải lo về vấn đề đó, nhưng điều đó khiến tôi nghĩ rằng có lẽ việc làm người thừa kế của các ông trùm không phải là điều tuyệt vời nhất, bởi sức ép tâm lí đổ lên con cái là rất lớn.
David Landes: Vâng, sức ép quả là rất lớn. Vì thế ông có thể thấy nhiều con cái không hề chia sẻ với cha mẹ. Bộ phim Pretty Woman cho chúng ta thấy nhân vật nam chính Richard Gere thậm chí không nói chuyện với cha mình trong những năm cuối cùng của cuộc đời ông. Richard chỉ biết tin cha chết qua cáo phó đăng trên báo.
Và đề tài này không phải chỉ đến thời Hollywood mới xuất hiện. Một số người cho rằng đó là một mặt của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Không hề. Từ thế kỉ 14, chúng ta đã có thể thấy những ví dụ như thế trong gia đình Medici.
AI: Ông viết trong một bài luận nhiều năm trước về các công ty gia đình của Pháp. Ông quan sát rằng tại Pháp, người ta có thói quen giữ tiền trong nội bộ gia đình hơn là vào tập đoàn hay để người ngoài tham gia vào.
Ở Mỹ, thường thì người ta sáng lập một công ty, ăn nên làm ra, và chỉ đến thế hệ thứ hai người ta đã công khai hóa và để một hệ thống chuyên nghiệp điều hành công ty.
Liệu đây có phải là sự khác biệt văn hóa, hay chỉ là đường lối của chính sách thuế? Liệu sức ép xã hội tại Pháp, Trung Quốc và một số gia đình sung túc Ả Rập khiến của cải tách xa gia đình có để lại hậu quả cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tại các xã hội này hay không?
David Landes: Mô hình doanh nhân gia đình thành công của Mỹ mà ông nêu trên, tất nhiên có động cơ công khai hóa bởi đó là cách tốt nhất để phát huy tiềm năng kinh doanh của doanh nghiệp. Người ta bán cho những người có niềm tin rằng vẫn còn nhiều nhiều cơ hội mở rộng và sẵn sàng đi trên con đường đó. Những người né tránh việc chia quyền sở hữu thường tự tạo ra giới hạn cho bản thân mình, và hành động đó sẽ khiến nền kinh tế bớt năng động đi cùng với thời gian.
Nhưng luật pháp cũng tạo ra nhiều điều kiện để giữ quyền kiểm soát cho gia đình. Gia đình Wallenberg nổi tiếng của Thụy Điển vẫn nắm giữ cổ phần trong rất nhiều doanh nghiệp lớn của Thụy Điển. Họ dàn xếp chế độ cổ phần có bầu chọn và phi bầu chọn, để đảm bảo khả năng kiếm soát ngay cả đối với những cổ phần khiêm tốn nhất.
Họ vẫn có thể duy trì quyền kiểm soát mà vẫn bán được phần lớn cổ phần, thậm chí còn làm quen với các đồng minh mới có ảnh hưởng lớn để cung cấp hỗ trợ về mặt chính trị. Đó là một trong những khía cạnh quan trọng của chủ nghĩa tư bản hiện đại: Nó có thể mang lại ảnh hưởng và sự kiểm soát cho một gia đình, nhưng lại không bị coi là bóc lột. Đây là việc kinh doanh lắt léo và có vai trò rất quan trọng đối với một số nhóm tiểu số nhất định, chẳng hạn như người Do thái. Tôi vẫn chưa bàn đến những kỹ xảo của Nhật Bản.
Một trong những vấn đề các công ty gia đình vấp phải là những kỹ thuật hiện đại đòi hỏi sự có mặt của những chuyên gia kỹ thuật hàng đầu, nhằm đảm bảo chiến thắng trong việc cạnh tranh với các công ty khác. Điều này có nghĩa là họ sẽ phải mời những người quan trọng vào công việc kinh doanh, nhưng họ lại không được quyền sở hữu. Những người này có thể muốn trở thành người sở hữu công việc kinh doanh, và ghen tị với đặc quyền mà một số người có, dù không phải là thế hệ đầu tiên, cũng có khả năng truyền lại việc kinh doanh cho đời con cháu của họ.
Vì vậy người Nhật Bản sáng chế ra công cụ thu nhận việc kinh doanh. Bạn có thể để con gái mình kết hôn với một chuyên gia cần thiết, hoặc đôi lúc nhận anh ta làm con trai. Đó là một công cụ tuyệt vời, và tôi chưa thấy một quốc gia nào khác áp dụng điều này thành công đến vậy.
AI: Đúng vậy. Chúng ta khó có thể làm như vậy trong xã hội Trung Quốc.
David Landes: Vậy ông đã thấy là văn hóa làm nên điều có thể?
AI: Hãy quay lại với người Pháp một chút. Tại sao người Pháp thường ít suy nghĩ theo cách duy lí trí và dựa trên nền tảng kinh tế? Họ có nạn thất nghiệp dai dẳng, và gần đây họ tìm ra giải pháp bằng cách thực hành tuần làm việc 35 giờ.
David Landes: Trong trường hợp cụ thể này tôi nghĩ nó liên quan tới thực tế là những thiếu sót của tuần làm việc 35 giờ được bù đắp bởi trợ cấp chính phủ trong an sinh xã hội. Những vấn đề như thế này có lẽ sẽ không tồn tại ở Mỹ, bởi vì người ta sẽ nói: “Tôi phải làm việc lâu hơn vì tôi muốn kiếm nhiều tiền hơn.” Trong hệ thống thống kê của Pháp, trong một chừng mực nào đó người ta đã có đủ tiền dưới dạng hàng hóa và dịch vụ từ nhà nước. Người ta đã giành nhiều công sức để dỡ bỏ giới hạn 35 giờ, và chúng ta hãy chờ xem điều gì sẽ xảy ra.
AI: Nhưng đó sẽ là cách nghĩ phi kinh tế, với giả sử lượng công việc phải làm là cố định. Điều này mặc định độ co giãn của cung cầu là bằng không, vì vậy cách duy nhất để một người khác có công việc là nếu tôi hi sinh phần công việc của mình. Liệu có ai khác từng dạy, chưa nói đến việc thực hiện, cách suy nghĩ kinh tế này trong 200 năm trở lại đây?
David Landes: Họ cho rằng họ bồi thường cho một cái gì đó không có tính duy lí về mặt kinh tế bằng sự sáng tạo và tính căn nguyên trong thiết kế và sáng tạo sản phẩm, trong việc tạo ra sản phẩm mà nhiều người sẽ thích. Chúng có thể có giá thành quá cao bởi người ta tốn quá nhiều chi phí và sản xuất chúng một cách kém hiệu quả. Ấy vậy mà người người ở khắp nơi trên thế đổ xô đến Pháp để mua những thứ đắt cắt cổ như vậy. Phong cách dường như làm người ta say hơn say rượu. Đây là điều mà nhiều người Mỹ không nghĩ tới.
AI: Hãy để chủ đề cuối cùng của chúng ta là chủ đề về cuốn sách tôi yêu thích nhất trong những cuốn ông viết, Revolution in Time (1983) – một cuốn sách nói về những sản phẩm được đội giá thái quá.
Ông có thể sắm một chiếc đồng hồ nhiều chức năng của Patek Phillippe với giá hàng trăm ngàn đô. Nhưng cuốn Revolution in Time ra đời từ cảm hứng giành cho đồng hồ của ông, chứ không phải từ việc định giá cao, có phải không ạ?
David Landes: Điều này xảy ra hoàn toàn ngẫu nhiên. Trong quãng thời gian sống tại Pháp, và thăm thú nhiều nơi với người đồng hành yêu dấu của tôi, tôi “lây” cái tính săn hàng bán đấu giá như ong săn mật của cô ấy, và mua một số đồ vật mỗi khi có dịp.
Trong quá trình đó tôi quen biết với những người có cùng sở thích, và tất nhiên, nếu ông học về lịch sử của công nghệ, ông sẽ được biết một chút gì đó về cách người ta sáng chế các đồ vật này. Một trong những điều tôi học được là người ta có thể làm ra những chiêc đồng hồ nhỏ, cơ học có khả năng sản sinh bất cứ một vật dụng cơ học nào khác. Chính kĩ năng có thể chuyển giao về mặt khái niệm này đã tạo ra sự khác biệt lớn đối với những thành tựu của phương Tây.
AI: Trong cuốn Revolution in Time, ông kể về một câu chuyện đáng chú ý về một người Trung Quốc phát minh ra chiếc đồng hồ nước khổng lồ vào thế kỉ 13. Anh ta truyền cho con trai cách làm, nhưng không ai khác có hứng thú cả. Tới khi con trai anh ta qua đời, tri thức này cũng mất theo. Đây là một thất bại đáng tiếc trong việc tận dụng những tiến bộ công nghệ.
David Landes: Lịch sử Trung Quốc vào thời điểm đó có rất nhiều những câu chuyện như vậy. Người Trung Quốc ngày đó đã có những phát minh phi thường, nhưng không giống với phương Tây, Trung Quốc thời đó không có khái niệm cạnh tranh, vì vậy họ thường bỏ rơi và cuối cùng quên đi những phát minh đó. Ngày nay đã có những chuyên gia trong lịch sử Trung Quốc muốn chứng minh rằng Trung Quốc ngày xưa tiến bộ hơn phương Tây rất nhiều, nhưng chưa lí giải được tại sao những phát minh đáng chú ý ấy lại bị rơi vào quên lãng.
Dù trong trường hợp nào, tôi rất quan tâm đến những vấn đề như thế này bởi tôi tin rằng đồng hồ treo tường và đeo tay là những phát minh công nghệ quan trọng nhất trong lịch sử thế giới, và cũng chính là công cụ giúp châu Âu nắm bắt và tiến tới những nền văn minh mới nhanh chóng hơn.
Điều này không bắt nguồn từ việc con người muốn biết thời gian, bởi họ có thể dựa vào bất cứ một dạng thời gian tùy ý nào, mà là vì cấu trúc của tất cả máy móc đều được chứa đựng trong công nghệ của một chiếc đồng hồ.
Hơn thế nữa, công nghệ đồng hồ không những thể hiện thành tựu về mặt cơ học, mà cả thành tựu ẩn dụ về mặt khái niệm nữa, trong trường hợp này là một dạng cân bằng động lực. Đó cũng là sự khác biệt lớn lao đối với tri thức và hiểu biết. Ông thấy đấy, ngay cả việc suy nghĩ về một đồ vật do con người tạo ra có thể tác động tới hướng phát triển của văn hóa, và giúp ta quyết định cái gì sẽ đem lại của cải. Đó không phải là điều đơn giản.
Catherine Trần (Dịch từ The American Interest) / Tuần Việt Nam