
“Hiện nay từ đào tạo mẫu giáo đến đào tạo tiến sĩ phương pháp dạy đều giống nhau. Cách làm này sẽ thủ tiêu sức sống cá nhân. Cứ học dồn, cứ nghĩ rằng làm trước là xong mà không thấy chất lượng cuộc sống của mỗi giai đoạn một khác... Bản thân tôi cả một đời dạy học. Với tôi, “trẻ em là cứu tinh của dân tộc”. Giáo sư Hồ Ngọc Đại trăn trở.
Giáo sư Hồ Ngọc Đại (trái) và Nhà báo Nguyễn Quang Thiều.
Ảnh Phạm Hải
Trẻ con luôn luôn đúng?
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa quý vị độc giả, câu hỏi muôn thuở của xã hội về một thứ sản phẩm, và đây cũng là sản phẩm quan trọng nhất, hệ trọng nhất làm nên đời sống, xã hội. Đó là sản phẩm người. Nhưng chúng ta cũng bắt đầu thấy lo lắng về sản phẩm này. Dường như có điều bất ổn, khiếm khuyết, sai lầm, ở đâu đó trong hệ thống giáo dục.
Cũng chính vì điều đó, VietNamNet đã mời Giáo sư Hồ Ngọc Đại- một người dành tâm huyết cả đời mình cho nền giáo dục, cùng bàn luận về một trong những vấn đề cấp bách của giáo dục nước nhà: đào tạo dạy dỗ học sinh tiểu học.
GS. Hồ Ngọc Đại: Cuộc sống hiện nay đã khác trước rất nhiều. Có căn cứ nào để chúng ta nói về sự đúng - sai. Theo tôi, có hai căn cứ để xác định một vấn đề là sai hay đúng trong giáo dục.
Căn cứ quan trọng nhất là cuộc sống thật, cuộc sống ta đang sống, mà triết học gọi là khách quan. Gọi là cuộc sống thật, vì nó phải sống thật, không thể giả dối được. Cuộc sống ấy phải là cơ sở để xử lý tất cả mọi vấn đề (văn hóa, khoa học, chính trị, thơ văn...). Và cuộc sống thật của ta so với cuộc sống thật của nền giáo dục hiện nay như thế nào?
Căn cứ thứ hai là trẻ em hiện đại. Giáo dục trẻ em, dạy trẻ con, cần phải biết nó là cái gì? Từ cuối thế kỷ 20, khi ở châu Âu, tôi đã nhận thức được một điều là cuộc sống biến đổi ghê gớm. Tôi đã chứng kiến sự nổi loạn của sinh viên. Tôi cũng đã từng có một cuộc phiêu lưu lớn trong giáo dục. Nhưng cuộc phiêu lưu ấy thất bại.
Vì sao có cuộc nổi loạn của sinh viên năm 1968 và tại sao lại có sự nổi loạn của giáo dục thế giới hồi năm 1960? Là vì họ không chấp nhận được cái nền giáo dục hiện tại của họ. Không thể chấp nhận được vì cuộc sống hiện đại đã hoàn toàn thay đổi.
Sự biến đổi của tuổi trẻ thế kỷ này đã khác rất nhiều so với thế kỷ trước. Những đứa trẻ lên 5 lên 6 tuổi sống ở thế kỷ 20 đã có thể đi làm nuôi em. Nhưng giờ đây, lứa tuổi 18, 20 vẫn còn bé bỏng, vẫn cần cha mẹ chu cấp.
Do vậy, tôi kết luận: cuộc sống thực luôn luôn đúng. Cuộc sống thực không thể sai. Cuộc sống là như thế, vì nó buộc phải như thế. Cho nên, tôi gọi triết lý gốc của con người là từ đó: Muốn gì thì gì, phải sống đã. Và rồi mới tính đến chuyện sống tốt hơn.
Trong cuộc sống thực ấy, chúng ta cứ giả định trẻ em luôn sống đúng. Điều đó có thể khiến các thầy giáo sẽ khó chấp nhận. Vậy trong tình huống này phải xử lý thế nào?
Khi mà cuộc sống diễn ra hiển nhiên như thế và dĩ nhiên ta phải sống. Do vậy có khi anh phải chấp nhận chịu thua cuộc sống, đơn giản vì anh không thể thắng nổi. Đối với trẻ em, vì đã xác định chúng luôn đúng, cho nên ta phải bằng lòng với hiện thực này.
Nguyên lý một nhà giáo dục là phải biết chịu thua trẻ em, để rồi sau đó tìm cách thắng lại, mà phải làm sao để thắng được cái lý của chúng, chứ không phải thắng cái lý của mình.
Nếu độc giả chấp nhận hai mệnh đề tôi vừa đề xuất là cuộc sống thực luôn luôn đúng và trẻ em luôn luôn đúng thì cứ căn cứ vào đó chúng ta sẽ xử lý được mọi vấn đề.
Do vậy, trong một nền giáo dục mà được trẻ em chấp nhận, thì mới hi vọng nền giáo dục đó đúng. Còn với một nền giáo dục mà trẻ em không chấp nhận, chúng cảm thấy bất hạnh, thì dứt khoát đó là một nền giáo dục sai, một nền giáo dục thất bại.
Nhà trường sai, người lớn sai?
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Tôi đồng ý với GS rằng cuộc sống thực luôn luôn đúng. Nhưng khi nói trẻ em luôn luôn đúng thì hơi khó thuyết phục. Phải chăng chúng đang sai, chúng đang trốn chạy nhà trường? Hoặc là nhà trường sai?
GS. Hồ Ngọc Đại: Nhà trường sai. Thầy giáo sai. Người lớn sai.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: GS có thể chỉ ra vài điều cơ bản nhất để minh chứng rằng trẻ con đúng và nhà trường đang sai. Do đó, hiện thực đang đòi hỏi phải có sự quan tâm cẩn trọng hơn nữa, đặc biệt hơn nữa đối với cấp tiểu học?
GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi có một cách tiếp cận khác với khái niệm trẻ con. Cách đây 30 năm, chúng ta phải đồng ý với quan điểm rằng coi trẻ em là của trời đất, cha mẹ, văn hoá, truyền thống, tự nhiên. Phải coi các em như thực thể sống trong đời, hít thở không khí, chịu ánh sáng tự nhiên, đói thì ăn, khát thì uống.
Nhưng hiểu lầm lớn nhất xưa nay là cứ bắt trẻ con phải làm theo mình, nếu trẻ con mà làm trái ý là coi như sai. Đáng lẽ khi trẻ con hiểu sai ý mình, thì mình phải tìm hiểu cái lý của nó là gì? Trẻ con không có âm mưu, chỉ suy nghĩ trên cơ sở chính nó, vì lợi ích cơ bản của nó, vì sự sống của nó chứ nó không tính về phía anh. Nhưng người lớn thì cái gì cũng tính về mình. Hai cách tính khác nhau, nên vênh.
Trẻ con phải hồn nhiên, vui tươi, không có gì đau khổ, vì ở vào lứa tuổi đó, chúng không đáng phải đau khổ. Chỉ có người lớn chúng ta mới đau khổ. Trẻ con khi đã không thích là không thích, nhiều khi bố mẹ còn cảm thấy ngượng với khách vì con, những khi mà không thích thì chúng thản nhiên bỏ đi, mặc kệ khách khứa. Nhưng chúng ta vẫn phải tôn trọng nó như một thực thể tự nhiên, bọn trẻ vốn sống hồn nhiên. Chúng có sai là sai theo ý mình, chúng cư xử trên cái lý của chúng.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Một trong những bức thư của các em học sinh gửi đến cho chúng tôi, bức thư của em Thảo Ly ở Hưng Yên. Bức thư này là một thông điệp, một lời cảnh báo, một tiếng kêu cứu của một đứa trẻ đối với nền giáo dục mà em đang sống trong đó, đang phải gánh chịu nó, đang phải cố gắng để vượt qua và thực hiện những tham vọng của người lớn. Bức thư viết : Cháu đang học lớp 3, cháu cảm thấy mệt mỏi vì chương trình học quá tải, chúng cháu học cả ngày, tối về lại ôn bài, làm bài, chuẩn bị cho ngày hôm sau. Cuối tuần, chúng cháu có rất nhiều phiếu ôn tập nhà trường giao cho, chúng cháu mong Bộ Giáo dục chỉ bắt chúng cháu học nửa ngày thôi, để buổi chiều chúng cháu có thể ôn bài, có thể chuẩn bị bài, có thể vui chơi, có thể chia sẻ, buổi tối chúng cháu có thể xem những chương trình tivi dành cho chúng cháu, được chọn trò chơi, được đọc truyện..
GS. Hồ Ngọc Đại: Em ấy nói đúng, cuộc sống không chỉ có chữ, cuộc sống nó còn nhiều thứ khác. Một trong những sai lầm từ ngàn năm nay của giáo dục là gì? Đến trường để kiếm dăm ba chữ, và ai hơn mình nửa chữ thôi cũng tôn làm thầy. Điều này ở một khía cạnh nào đó có nghĩa nhưng ở khía cạnh khác lại là vô nghĩa, chữ không phải là tất cả.
Tôi đã phê phán khẩu hiệu "vì tương lai con em chúng ta". Sao lại đi hứa hão với bọn trẻ rằng cứ chịu khổ đi, chịu khó đi rồi nay mai sẽ hạnh phúc. Và thế là bọn trẻ bị đầy đọa từng ngày. Đáng lý ra khẩu hiểu đó phải là: “Ngày hôm nay các em hạnh phúc, ngày mai các em còn hạnh phúc hơn”. Tại sao lại không vì hạnh phúc ngay hôm nay, hạnh phúc ngay bây giờ của con em chúng ta. Hãy nói với chúng rằng, ngày hôm nay em đến trường vui, ngày mai em đến trường vui hơn.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Phụ huynh Nguyễn Văn Trường ở Hà Nam viết về thời gian biểu của con mình mà lại ngập tràn đau xót : “Cháu không còn một chút thời gian nào để nghỉ ngơi và chơi, lúc nào cũng trong tình trạng như hoảng loạn. Nhiều khi buổi tối cháu học mệt quá ngủ gục trên bàn, tôi bế cháu lên giường ngủ thì cháu choàng tỉnh dậy vội cầm bút ngơ ngác học tiếp”. Tôi thấy thời gian biểu của một học sinh không mang lại cho em một cảm hứng nào mà lại như là một án phạt đối với em. Những đứa trẻ đến trường với một nỗi sợ hãi như thế thì nền giáo dục ấy mang lại gì cho những công dân tương lai của một dân tộc ?
GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi cũng đau khổ lắm, như tất cả các vị. Bởi vì người lớn có thể chịu đựng mọi nỗi đau khổ, nhưng trẻ con không đáng phải chịu đựng như thế.
Trẻ con cần hưởng hạnh phúc, trẻ con cần được vui chơi và chưa đến lúc phải chịu nỗi khổ của người lớn. Cái đúng là sự hồn nhiên, thanh thản, được làm theo ý mình.
Ta cứ nghĩ trẻ làm theo ý mình là hư – nhưng cuộc sống thực của nó bảo nó phải làm như thế, chứ nó không tự ý.
Xã hội đã ngàn đời coi trọng bằng cấp, đè nén con người khủng khiếp. Chính nỗi đau đó cũng là nỗi đau của các thầy giáo.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Có một bạn đọc phản ánh, trước kia con chúng tôi phải vác 1 cặp sách, thì nay, sau cải cách, con chúng tôi phải vác đến 3 chiếc cặp sách đến trường?
GS. Hồ Ngọc Đại: Một bước tiến của nền giáo dục trong nền văn minh hiện đại là phải có tư tưởng mới và cách làm đúng. Để có những bước phát triển mới thì phải có tư tưởng và cách làm mới. Cách làm xưa nay là thầy giảng, trò ghi nhớ. Cách làm của tôi là thầy không giảng giải, trò tự làm tất cả. Cách làm cũ là trò phải cố gắng, còn cách làm của tôi là trò không phải cố gắng, hãy cứ tự nhiên.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Mọi người đều quan tâm đến một sáng tạo của giáo sư đối với nền giáo dục Việt Nam đó là trường Thực Nghiệm?
GS. Hồ Ngọc Đại: Đó là một sáng tạo của thế kỷ 20 của những nhà tâm lý học Liên Xô.
Trường Thực nghiệm vừa là trường, vừa không phải là trường. Ở đây những tư tưởng, ý tưởng phải được làm thật, trên những con người thật.
Anh đã dám làm khoa học trên những con người thật, thì khoa học của anh phải thật và anh cũng phải thật. Và trẻ cảm nhận mỗi ngày đi học đúng là một ngày vui. Thay vì bắt trẻ làm theo ý mình, ở đây chúng tôi nói với chúng: "Thưa các em, thầy nghĩ như thế, thầy làm như thế, các em xem có đúng không, các em có chấp nhận hay không?".
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Nó ưu việt như vậy, nhưng vì sao mô hình trường Thực nghiệm hay những phần ưu việt của mô hình này vẫn chưa được phổ cập trong đời sống giáo dục của nước ta? Phải chăng các nhà quản lý giáo dục không nhận ra điều ấy ? Hay họ nhận ra nhưng không làm ? Chúng ta đang vì những học sinh hay chỉ vì lợi ích và lòng tự ái của chúng ta ?
GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi đã từng đề xuất “Học sinh là nhân vật trung tâm, thầy giáo đóng vai trò quyết định” và “Đưa công nghệ giáo dục mới vào nhà trường”. Nhưng khi đưa vào Nghị quyết thì lại thành: “Học sinh là nhân vật trung tâm” và “Đưa công nghệ mới vào giáo dục nhà trường”.
Tôi đem thắc mắc này đi hỏi và được giải thích: “Xưa nay ta vẫn quen đề cao giáo viên, nay phải nhấn mạnh vai trò của học trò thì nên đặt dấu chấm ở đấy cho gọn. Còn câu thứ hai, nếu đưa nguyên xi vào thì hóa ra ngả hẳn về phía cậu à?”.
Sau đó Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định cả nước dùng chung một bộ sách giáo khoa, chung một phương pháp, và đương nhiên tôi trở thành thiểu số...
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Tôi đã thăm một trường tiểu học ở Boston (Hoa Kỳ), được xem một vở kịch của các em lớp 1 diễn. Chúng tranh luận với nhau về việc ai làm đổ cái chuồng của chúng. Và một con lừa già xuất hiện nói: “Ta xin lỗi, chính ta đã làm đổ cái chuồng, nhưng lúc trước ta đã không dám thừa nhận, vì ta xấu hổ, ta sĩ diện, ta hão huyền, ta ngạo mạn…”.. Tôi đã rất “kinh hãi” và xúc động vì con lừa đó do ông hiệu trưởng đóng. Họ thật sự hoà đồng, chia sẻ, và lắng nghe. Xin tất cả hãy suy ngẫm thật kỹ về câu chuyện này. Những điều này sao không có trong các trường ở Việt Nam ?
GS. Hồ Ngọc Đại: Ngày xưa, chúng ta giáo dục dựa trên nền tảng là vì lợi ích của người lớn, còn ngày nay là vì lợi ích của đứa trẻ. Đó là hai vấn đề khác nhau.
Lâu nay người lớn chúng ta vẫn quan niệm trẻ con là trẻ con. Nhưng với tôi, trẻ con là dân tộc, là thiên nhiên, chúng sống thánh thiện và vô tư. Khi chúng không bằng lòng là không bằng lòng thật. Không giống người lớn, thất bại nhiều rồi nên nhiều khi phải giả vờ. Mà giả vờ chính là sự hèn mọn. Do không phải giả vờ nên bọn trẻ con chưa hèn, cuộc đời chưa làm cho chúng hèn đi. Vì vậy, bọn trẻ đáng được tôn trọng, và chúng ta phải tôn trọng thật, chứ không phải sự tôn trọng giả vờ.
Còn đối với nhà giáo, trong một ý nghĩa nào đó phải coi học sinh là cấp trên. Nghĩ như vậy không phải là chúng ta hạ mình, mà đây chính là trách nhiệm, chính là lương tâm.
Không thể cứ sai lầm mãi
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Có một quan niệm sai lệch trong nền giáo dục của chúng ta là bậc đại học thì được quan tâm hơn tiểu học. Nhưng tiểu học lại là thời điểm con trẻ hay có thể nói chính xác hơn là thời điểm quan trọng nhất của một đời người để bắt đầu nhận thức thế giới xung quanh, với con người bên cạnh, với muông thú, cây cỏ, côn trùng, đất trời… nhằm đặt nền tảng cho tâm hồn và nhân cách con người thì càng cần những “người thầy vĩ đại” nhất, thấu hiểu chúng, biết lắng nghe chúng, chia sẻ với chúng, hướng dẫn chúng, gợi mở chúng. Thì GD Việt Nam lại làm ngược lại tất cả các nguyên lý cơ bản đó. Có ai nhận ra điều đó không? Tại sao vẫn để tồn tại?
GS. Hồ Ngọc Đại: Muốn giải quyết nền giáo dục hiện nay thì phải tập trung vào giải quyết 2 bậc Tiểu học và Đại học. Và phải làm mới hoàn toàn.
Thứ nhất, bậc tiểu học có 2 đặc điểm cơ bản, học sinh tiểu học còn nhỏ, còn bố mẹ, ông bà nội ngoại, còn họ hàng… có hàng chục người gắn vào học sinh lớp 1. Nếu học sinh lớp chúng hạnh phúc thì hàng chục người đó hạnh phúc. Nếu giáo dục nhà trường tốt thì gia đình dễ yên ấm, xã hội dễ yên lành.
Thứ hai, với cấp tiểu học, đặc biệt nhóm lớp 1 nghiệp vụ phải tinh tế nhất, cao siêu nhất, chắc chắn nhất.
Và cấp tiểu học cũng nên kéo dài 6 năm, Vì đây là khoảng thời gian chúng ta có thể chuyển tải tất cả những gì gọi là bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, đạo lý dân tộc, quan hệ giữa người với người, hạnh phúc gia đình, hạnh phúc xã hội,...
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa Giáo sư, với những đứa trẻ từ mầm non đến tiểu học chúng ta đào tạo để đưa chúng tiếp cận với những nền khoa học, những vấn đề chính trị thời đại hay là để chúng được trau dồi những nền tảng của mỹ học. Song nếu đưa chúng đến với nền tảng mỹ học, giàu tính nhân văn thì dường như phương pháp giáo dục của chúng ta và giáo trình của chúng đang sai?
GS. Hồ Ngọc Đại: Sai! Bởi nếu đã học văn hoá, học sinh phải tiếp cận với nền văn hoá hiện đại, thành tựu khoa học hiện đại, cuộc sống học hành giải trí hiện đại, vậy hà cớ gì phải học những cái cũ, chữ nghĩa từ mấy thế kỉ trước.
Dạy sai có thể khiến cả một dân tộc sai lầm
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Chứng kiến trong ngày quốc khánh Mỹ, tôi thấy những đứa trẻ Mỹ ở một trường tiểu học tự viết diễn văn, tự nói về dân tộc... Các thầy cô chỉ là những người quan sát, hỗ trợ và gợi ý. Và trong tâm hồn trong sáng, công bằng, không vụ lợi và đầy trí tưởng tượng về dân tộc của chúng, người lớn chúng ta sẽ có cơ hội nhìn thấy dân tộc họ trong một hình ảnh mới đầy sức sống và sáng tạo. Tôi tự đặt câu hỏi, nếu những điều đó là chân lý vậy tại sao chúng ta không làm? Trong khi đó, chúng ta đang biến những đứa trẻ trở thành những robot thực thi các “lệnh” của chúng ta ?
GS. Hồ Ngọc Đại: Khi một điều gì đó ra vượt khỏi nhà trường và vào xã hội, đó là quyền lực hành chính. Khoa học thì không bao giờ có quyền lực, chỉ có lời khuyên thôi.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Có một bạn đọc ở Xuân Trường (Hải Dương) hỏi: Thực tế cho thấy chất lượng sản phẩm giáo dục của chúng ta, rất thiếu sức khoẻ, thiếu kĩ năng sống, thiếu vốn kiến thức cơ bản để hoà nhập với đời sống xã hội và thiên nhiên. Thưa Giáo sư, thực trạng này là do chúng ta thiếu tiền hay thiếu chính những người thày có chất lượng?
GS. Hồ Ngọc Đại: Có những người thầy khiến tôi rất kính trọng. Nhưng đúng là nhiều người thầy hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Với những người làm thầy cần nhất là sự lương thiện. Đó là cách để làm ra sản phẩm thật cho xã hội.
Khi mà 5% dân cư đi học, và thất bại cả 5% thì ko sao. Nhưng với một nền giáo dục mà tất cả trẻ em đều đến trường mà lại được dạy bảo sai thì điều đó sẽ khiến cho cả một thế hệ sai lầm, cả một cả dân tộc sai lầm. Dân tộc đó là dân tộc của một trăm năm nữa, chứ không phải dân tộc của ngày hôm nay. Đây là nỗi đau của cả dân tộc.
Dạy trẻ con tự cảm nhận theo cách của mình
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thực tế cho thấy ngày càng nhiều giáo viên dạy văn đã không còn cảm xúc. Dạy văn, mục đích cơ bản là để học sinh tiếp cận vẻ đẹp ngôn ngữ và vẻ đẹp tâm hồn cũng như lòng nhân ái chứa đựng trong ngôn ngữ đó. Nhưng những buổi học văn vô cảm sẽ không mang lại bất cứ điều gì cho học sinh. Theo Giáo sư, điều gì đã mang lại sự vô cảm trong những bài giảng hiện nay? Phải chăng đó là những giáo trình sơ cứng và những phương pháp dạy bị động không sáng tạo?
GS. Hồ Ngọc Đại: Có 2 sai lầm. Nền giáo dục cũ hiện nay đề cao quá vào lí trí, chữ nghĩa, coi thường tình cảm, niềm tin, đạo đức. Mất niềm tin đạo đức sẽ trở thành người vô đạo đức. Lí trí hoá nền giáo dục, và lí trí hoá cuộc sống con người đi nhiều. Do vậy, phải tôn trọng tình cảm, mà tình cảm do nghệ thuật mang đến. Có thể áp đặt về lí trí, nhưng không thể áp đặt trong nghệ thuật và đạo đức.
Tôi luôn chú ý cả 3 lĩnh vực: khoa học, nghệ thuật và lối sống. Lõi của lối sống là niềm tin đạo đức. Nghệ thuật không thể giảng được. Nhưng có thể gợi ý, định hướng và hướng dẫn. Các em hoà nhập vào tác phẩm để cảm nhận theo cách riêng của mình.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Ông sẽ dạy những gì cho những học sinh không học trong trường thực nghiệm. Và ông sẽ chia sẻ những gì với cha mẹ chúng?
GS. Hồ Ngọc Đại: Việc này khó. Bởi họ đã quen nếp cũ, nếu thay đổi, phải thay đổi đồng bộ. Thay đổi giáo trình, phương pháp dạy với đứa trẻ. Thay đổi các mối quan hệ giữa đứa trẻ và thầy giáo, giữa thầy giáo và phụ huynh. Quan hệ giữa thầy giáo và phụ huynh hiện nay là quan hệ đối phó, chưa phải hợp tác.
Hiện nay phụ huynh thường có tâm lý trăm sự nhờ thầy giáo, hoặc lấy lòng thầy giáo vì sợ thầy giáo không hài lòng thì con mình khổ.
Đã không ai thấy rằng thành quả của các em là do gia đình và nhà trường cùng làm nên. Trong tương lai phụ huynh học sinh phải được đào tạo thành phụ huynh học sinh theo đúng nghĩa vụ, thầy giáo đúng trách nhiệm và nghĩa vụ, hai bên hợp tác nhau, không bên nào làm lẫn nhiệm vụ của bên nào, có vậy đứa trẻ mới thấy được hạnh phúc cả khi ở với gia đình lẫn ở trường. Với nền giáo dục hiện nay một số người đã không chịu nổi, và khi tất cả đều không chịu nổi thì sẽ khác.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Nhiều bạn đọc của VietNamNet đã gửi thư bày tỏ băn khoăn, lo lắng về quy định chuẩn cho trẻ 5 tuổi. Giáo sư có ý kiến gì về vấn đề này?
GS. Hồ Ngọc Đại: Những năm 70 ở Liên Xô có cuộc tranh luận. 1 phái nhận trẻ con 6 tuổi vào lớp 1 và phái kia nhận trẻ 7 tuổi (tôi là phái 7 tuổi).
Tại sao phải trì hoãn tuổi đi học? Bởi trong cuộc đời không có giai đoạn nào đẹp hơn thời kì từ 0 đến 6 tuổi. Tuổi này mà được ở nhà, được vui chơi thoải mái là thích nhất. 6 tuổi là thời điểm tích luỹ kinh nghiệm một cách thiên nhiên, bản tính. Giai đoạn này trẻ thích mầy mò, khám phá. Nên hãy để các em thảo sức tìm tòi. Dĩ nhiên có thất bại, có thành công…. không nên ràng buộc các em bằng những chuẩn hoá quá sớm.
Không dám nhìn vào sự thật
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: GS có thể nói gì về cái quy chuẩn trẻ 5 tuổi?
GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi cho rằng không cần thiết. Việc các trường mẫu giáo dạy chữ trước khi trẻ vào lớp 1 là hi sinh một thứ rất lớn để đổi lấy thứ không cần thiết.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Chúng ta đang mắc những sai lầm lớn trong giáo dục mầm non, tiểu học. Chúng ta phải từ bỏ ngay ý nghĩ những đứa trẻ phải nhất nhất nghe lời chúng ta. Chúng ta đã bỏ rơi chúng trong chính ngôi nhà của mình, nhà trường của mình và ngay cả trong xã hội của mình mà cứ lầm tưởng là chúng ta đang chăm sóc chúng. Thực tế, chúng ta đang chỉ chăm sóc phần xác của chúng mà thôi. Vậy theo Giáo sư, chúng ta làm gì để khắc phục những sai lầm đó, phải mất bao lâu thời gian để khắc phục?
GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi thấy đau xót vì không ai nhìn thẳng vào sự thật. Có thể nói thành lời, nhưng không ai cảm thấy rằng trẻ con là máu thịt của mình, không ai cảm thấy đứa con đau khổ chính là mình đau khổ. Và không thấy được sự tối ưu của mỗi giai đoạn khác nhau.
Hiện nay từ lớp mẫu giáo cho đến các bậc tiến sĩ dạy đều có phương pháp dạy giống như nhau. Cách làm này sẽ thủ tiêu sức sống của cá nhân. Phương pháp cứ dồn góp, cứ nghĩ rằng làm trước là xong, mà không thấy được chất lượng cuộc sống mỗi giai đoạn một khác. Do vậy, phải có phương pháp giáo dục riêng cho từng cấp học, mầm non khác, tiểu học khác, tiến sĩ phải càng khác. Bản thân tôi cả một đời dạy học. Tôi luôn quan niệm trẻ em là cứu tinh của dân tộc.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Cuộc trò chuyện chỉ vọn vẻn trong khoảng hơn 1 tiếng, nhưng chúng ta nhận ra quá nhiều điều bất ổn trong những đứa trẻ thời nay. Chúng ta không biết điều đó, và ngay cả những người biết nhưng đã chôn vùi những lỗi lo lớn ấy của xã hội vào giấc ngủ hưởng thụ và tự mãn của cá nhân mình. Chúng ta phải thừa nhận rằng: tất cả những lầm lẫn trong giáo dục hay những thất vọng về những đứa trẻ nào đấy đều do người lớn chúng ta gây ra. Có một lúc nào đó Giáo sư tuyệt vọng vì những lỗi lầm này?
GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi đã nói những điều này từ cách đây 30 năm nay rồi. Tôi không sợ ai giận cả. Tôi không tuyệt vọng. Tôi có chiến lược, chứ không phải làm ẩu.
Khi tôi về nước, tôi hi vọng sau 20 năm sẽ có nền giáo dục mới. Tôi bỏ ra 10 năm đầu để làm mất nền giáo dục hiện nay đi, cùng lúc đó, tôi thiết kế một nền giáo dục khác. Khi không có những đứa trẻ thật, những cha mẹ thật, một nền giáo dục thật thì tất cả đều là viển vông. Dân tộc ở lại mãi mãi, trẻ em ở lại mãi mãi.
Tôi chịu trách nhiệm với trẻ em. Qua trẻ em tôi chịu trách nhiệm với cha mẹ. Qua trẻ em và cha mẹ chúng tôi chịu trách nhiệm với dân tộc này.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Nhiều người đều cảm nhận và không hài lòng với cách giáo dục hiện tại. Họ lo ngại điều đó sẽ mang lại tai hoạ cho đất nước. Đây cũng là nỗi lòng mà đông đảo các vị phụ huynh trên cả nước, những người có lương tâm giáo dục chia sẻ với Giáo sư và chúng tôi.
Vẫn còn rất nhiều câu hỏi của bạn đọc, nhưng tạm thời xin được phép khép lại cuộc bàn tròn nhỏ với một vấn đề quá lớn và còn quá nhiều điều phải bàn. Nhưng không còn cách nào là chúng ta phải lên tiếng.
Xin thay mặt bạn đọc VietnamNet, Tuần Việt Nam cám ơn Giáo sư. Mong rằng tất cả mọi người trong cộng đồng này cùng lên tiếng, lên tiếng mãi cho đến khi chúng ta đổi thay, kiên trì như Giáo sư Hồ Ngọc Đại để đến một ngày nào đó nền giáo dục mầm non nói riêng và nền giáo dục Việt Nam nói chung có sự đột phá khởi sắc.
Tuần Việt Nam
Các thầy đừng tự tạo "bi kịch" giáo dục!
1. Chưa dạy học trò nói thì không nên hỏi:
Có thầy giáo đã nói với học trò của mình thế này: “Các anh chị cứ kêu là dạy phải có đối thoại, từ nãy đến giờ tôi đặt câu hỏi nào có thấy ai phát biểu đâu”. Thử hỏi đấy có khác nào đố cò ăn mắm trong đĩa. Một khi muốn cho người học có khả năng đối thoại, thiết nghĩ phải cấn đến mấy yếu tố sau:
Thứ nhất: Là nền tảng kiến thức: Một học sinh phải có vốn kiến thức nhất định ( tất nhiên ở đây chủ yếu là phương pháp luận và khả năng tư duy thôi vì các số liệu, dẫn chứng thì có thể châm trước ở mức độ nào đó) để có thể đối thoại với giáo viên, tránh hiện tượng học trò hỏi những câu rất ngây ngô vì không hiểu gì về chuyện đó cả..
Thứ hai: Học trò cần phải được trang bị phương pháp nghiên cứu, dể tự xây dựng đề tài thông qua một chương trình giáo dục khá cởi mở gắn chặt với quá trình tự khám phá, tự đánh giá thì bản thân người học mới nẩy sinh nhiều thắc mắc thông qua sự va chạm, cọ sát của chính bản thân với đề tài đó. Lâu nay đã có phương pháp dạy học như: Lấy hoạt động của người học làm trung tâm, đòi hỏi người dạy phải đầu tư rất nhiều thời gian, công sức để xây dựng giáo án với những câu hỏi để khiến người học phải động não. Chúng ta vẫn thường gọi đó là cách phát huy trí lực học sinh. Thực sự đấy chỉ là cách cho các em ngồi lên chiếc ghế nóng rồi xoay tứ tung cho đến lúc chóng mặt thì thôi bởi người học đã có quá trình nghiên cứu đâu khi mà từ trước đến nay toàn vểnh tai lên chờ thầy đọc chứ không phải là ngẫm nghĩ. Cũng bởi điều này mà các thầy cô rất khó xây dựng câu hỏi khi không thể đặt ra những câu hỏi khó vì trình độ học sinh quá thấp, hiểu biết quá ít. Còn hỏi dễ thì chỉ tạo ra những tiết học nhợt nhạt và kết quả là chẳng đọng lại trong đầu các em được gì cả. Bởi thế mà sau rất nhiều sự đổi mới, các thầy cô vẫn phải quay về phương pháp truyền thống là đọc chép, tuy biết là có bất cập nhưng còn hi vọng giúp các em nhớ được chút ít kiến thức rắt lưng. Vậy là các giờ thao diễn theo đúng phương pháp hiện đại kia chỉ như một mâm cỗ thịnh soạn dâng lên các đoàn kiểm tra nhân dịp này, dịp nọ còn sau đó “đâu” vẫn phải vào “đấy”. Những tiết dạy ấy chỉ mang tính chất mà theo ngôn ngữ dân dã vẫn gọi là: “ cúng cụ ”.
Thứ ba: là phải có một quá trình đồng thuận từ các cấp học từ dưới lên trên chứ không thể rời rạc như hiện nay được. Có một thực tế đáng buồn là dường như giữa chương trình Ngữ văn cấp THCS và THPT có một độ chênh nhất định tạo ta một nấc thang quá dài, một cái hố quá sâu khiến cho rất nhiều học sinh gần như bị hụt hơi khi mới tăng cấp. Ở cấp THCS thì lại chỉ yêu cầu các em tiếp cận môn Ngữ văn một cách quá dễ dãi và trẻ con kéo dài trong suốt 4 năm còn khi lên cấp THPT thì lại đột ngột nghiêm túc. Bởi thế mà rất nhiều bậc phụ huynh rất tin tưởng vào điểm số và khả năng học văn của con em mình ở cấp dưới rồi lại hẫng hụt và thậm chí là oán trách các thầy cấp trên vì thấy điểm số của con cái đã tụt xuống một cách chóng mặt. Họ đâu có biết với chương trình Ngữ văn cấp THCS dù đã có kiểu bài phân tích ( gần với cấp THPT nhất ) thì chẳng qua nó vẫn là cái đuôi kéo dài của phát biểu cảm nghĩ theo lối cảm nhận văn học bằng cảm xúc thuần tuý, với có ý thức rất mờ nhạt về lý luận. Trong khi đó để có thể tạo cho học sinh khả năng đối thoại thì phải bắt đầu từ ngay các cấp học thấp các em phải được tự tìm hiểu, để có được những thắc mắc và đối thoại với giáo viên, Như một cỗ máy để lâu đã hoen rỉ chỉ trong chốc lát ( và có thể là vĩnh viễn) không thể hoạt động được. Suốt 12 năm học các em không được đối thoại, không biết đối thoại mà chỉ biết lặng im nghe thầy đọc và cắm cúi ghi, để dò dẫm qua những cấp học khấp khểnh và chông chênh như thế thì đến giờ các em tỏ ra ấp úng, sợ sệt khi được hỏi cũng là điều quá dễ hiểu. Học tập là niềm vui, là sự thích thú, vậy thì còn gì đau lòng hơn mỗi khi “ được ” đứng lên trả lời câu hỏi các em học sinh của chúng ta xuất hiện với dáng đứng thì vẹo vọ, mặt thì sợ sệt, trả lời thì lúng túng theo đúng nghĩa người ta gọi là “lên thớt ” vậy. Không chỉ có con người tinh thần mà cả con người sinh học cũng cần phải được dèn luyện mới có thể thường trực một khả năng nào đó mà các nhà khoa học gọi là phản xạ có điều kiện. Vậy thì tại sao chúng ta không tạo lập cho các em điều kiện ấy cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Không giúp học trò tự cất lên tiếng nói của bản thân mình về những gì các em thắc mắc ở bài giảng, ở cuộc sống thì đặt câu hỏi phỏng có ích gì. Với kiểu làm việc “ đi tắt đón đầu” chỉ muốn thay đổi nhánh chóng một cách duy ý trí như vậy rồi lại ca cẩm học sinh là yếu kém thậm chí ( xin lỗi tất cả các em ) là ngu rốt này nọ thì quả là điều đáng buồn. Hãy dậy cho học sinh biết nói bằng cái đầu của mình trong khoa học chúng ta sẽ có được mọi thứ.
2. Một vài ý kiến tham khảo:
Tuy nhiên để có thể áp dụng cách thi cho phép thí sinh được sử dụng tài liệu thì có lẽ phải tìm ra một cách dạy và học khác mà xin được tạm gọi là cách dạy và học năng động. Người viết có thể đưa ra một vài ý kiến tham khảo về cách làm này như sau: Thứ nhất: Nên có sự liên thông về chương trình giữa các cấp học một cách hiệu quả hơn nữa. Thực ra trong suốt những năm gần đây các nhà giáo dục đã tính đến điều này nhưng sự liên hệ của giữa các cấp học là rất ít ỏi, dường như cấp nào chỉ hoàn thành chọn nhiệm vụ cấp ấy theo kiểu mỗi cấp là một tầng của ngôi nhà 4 tằng ( nhiều người đã gọi vui bậc Đại học là phổ thông cấp 4 ). Người đi học muốn lên tầng cao hơn thì chịu khó học lên cao thêm nữa. Trong khi đó đáng ra các cấp học phải là một hệ thống liên kết theo trục dọc, ở cấp dưới còn để ngỏ những câu hỏi để tạo sức hấp dẫn và hứng thú cho người học muốn vươn lên cấp học cao hơn. Đã có tình trạng có những tác phẩm văn học ở cấp THCS được khai thác rất vừa phải ( tất nhiên là để phù hợp với học sinh cấp học này) nhưng theo cái lối đơn giản hoá vấn đề và tất cả dừng lại ở đó khiến cho người học yên tâm và chủ quan với những gì mình đã biết. Đó là những lời bình rất trung trung, không bám sát văn bản ngôn từ và nặng về cảm xúc rất nông cạn. Đến khi lên cấp học cao hơn, thấy cách khai thác phức tạp hơn các em cảm thấy chán và có khi còn nghi ngờ những cách khai thác ấy là phi văn chương nữa là đằng khác. Thứ hai: Nên xây dựng một kho tư liệu để học sinh có thể truy cập. Đó là sự đầu tư về nguồn tài liệu, trang thiết bị thí nghiệm và những trang wed online về các lĩnh vực khoa học một cách qui củ và thuận tiện hơn hiện giờ để các em dễ dàng tìm kiếm thông tin. Quá trình đó được bắt đầu từ cấp học mầm non thông qua những phương pháp học tập với thiết bị trực quan sinh động từ đơn giản như ghép hình, ghi nhớ hình ảnh theo chủ đề chứ không phải là những lối lắp ghép quá cũ kĩ và rạc như bây giờ. Còn từ cấp tiểu học trở lên, các em có thể truy nhập giữ liệu trong máy tính và làm những bài tập trắc nghiệm thông qua các phần mềm tự chấm điểm và đánh giá. Nếu như trong điều kiện kinh phí còn khó khăn, các em chưa có điều kiện cập nhật thông tin trên mạng ở trường và khi về nhà thì phải có một hệ thống sách tư liệu công cụ có sự cập nhật thông tin tương đối. Ở đây cũng cần đề cập một vấn đề là sách giáo khoa của chúng ta quá mỏng hình như chỉ phục vụ cho yêu cầu giảng dậy trên lớp mà chưa chú ý đến nhu cầu tìm hiểu thêm của học sinh. Việc chọn một tác phẩm của một tác giả để giảng dậy là đúng nhưng ngoài ra sao chúng ta không in thêm một số tác phẩm nữa để các em có thể tham khảo nhiều hơn. Với lượng những bài đọc thêm trong chương trình vẫn là quá ít ỏi. Và có lẽ cần in thêm cả những bài viết của các học giả, của những người viết cùng trang lứa với các tác giả này để các em dễ hình dung về những yếu tố liên quan đến tác phẩm. Để hiểu về một nhà văn nào đó học sinh phải cần đến nhiều điểm nhìn tham chiếu, ngay đến các nhà nghiên cứu cũng phải tìm đọc nhật kí, tiểu sử và điền dã đến miền quê của các nhà văn mới có thể phác thảo được chân dung nghệ thuật của họ. Vậy nếu để các em chỉ biết trông chờ vào bài giảng thì quả là rất khó khăn và dễ gây ra nhàm chán vì thấy nhà văn nào cũng giống nhau. Nhà văn nào cũng thuộc về một xứ sở, các nhà toán học, vật lý, hoá học… cũng vậy. Ai cũng sống và nghiên cứu, sáng tạo trong một không gian văn hoá và thời điểm lịch sử nhất định. Tin chắc rằng nếu chỉ dừng lại ở một vài dòng Tiểu dẫn trong sách giáo khoa các em học sinh ( đang ở cái tuổi rất hạn chế về vốn sống ) rất khó hình dung và yêu thích những bài học của mình. Thứ ba: Là vấn đề đánh giá năng lực con người. Điều nay thoạt nghe có vẻ rất xa xôi nhưng từ sự đánh giá chính xác về năng lực của học trò sẽ giúp các em có được sự định hướng đúng đắn và động lực để học tập một cách tích cực. Chúng ta phải thấy rằng xưa nay những người thành đạt và nổi tiếng trong mọi lĩnh vực thường có những lối rẽ khang khác trên con đường tới đích so với những người bạn học của mình. Đơn giản chỉ là họ nhậy bén hơn, tư duy sâu sắc hơn và khả năng sáng tạo cao hơn. Vì thế, ngoài những câu hỏi thông thường vẫn nên để ngỏ một hành lang thống thoáng cho các “ sao ” có thể vượt lên bằng một lối đi riêng chứ không phải để họ phải bước qua 12 năm phổ thông và 4 - 5 năm đại học một cách tẻ nhạt như thế được nữa. Việc tạo cho người học có cách học năng động cũng sẽ phản ánh chính xác con đường chiếm lĩnh khoa học với đúng nghĩa của nó là với đầy những sự táo bạo, va vấp và cuối cùng là sáng tạo. Chúng ta sẽ tránh được một tình trạng của cách dạy và học bây giờ là nhiều thầy, cô đã ngây thơ khi thấy có học trò còn ít tuổi đã sớm “ tròn chịa ” trong tư duy để rồi sau này mới vỡ ra càng ngay em đó càng cằn cỗi và mờ nhạt. Sự thực là ngay cả các nhà khoa học lỗi lạc cũng không ai băng băng về đích ngay từ đầu. Tất cả sự thành công của họ đều là sự phản biện cho lối học hành cú đậu từ xưa đến nay mà họ đã gặp phải. Bởi thế mà họ thường va vấp, rồi tự khám phá và cuối cùng mới đạt được một điều gì đó nhưng là một đỉnh cao vĩ đại. Còn với lối mớm kiến thức như chim mẹ mớm cho con sẽ sản sinh ra những học trò chỉ chú tâm vào việc tổng kết, làm đề cương, học thuộc, làm đúng các thao tác để tạo nên sự hoàn hảo giả tạo. Khi phải tự mình làm chủ một hướng đi, phải sáng tạo thật sự thì họ mới bộc lộ hết sự cứng nhắc và thụ động. Chúng ta đừng quên câu chuyện về chú thiên nga xinh đẹp khi còn bé vẫn bị đàn vịt con gọi là “ con vịt xấu xí ” nó không chỉ là truyện cười của một thời đại. Với một em học sinh cái tương lai của mười năm, hai mươi năm sau khi em đó phát huy năng lực của mình để xây dựng đất nước mới thật sự là cái đích của những người làm giáo dục. Một khi đã là sự nghiệp trồng người thì chúng ta nên cố gắng trồng được những cây đại thụ chứ không phải chỉ là thứ si, đa trong chậu cảnh tuy rất hoàn hảo nhưng bé mọn và cằn cỗi.
Cuối cùng để kết thúc bài viết này người viết muốn nói một điều rằng tâm hồn học trò bao giờ là cốc nước trong veo nhưng vô cùng tinh khiết có đủ tiềm năng để tạo nên đủ mọi loại mầu sắc. Chúng ta có thể tạo nên sắc hồng tuyệt đẹp hay vô tình để nó vấy bẩn cũng bắt đầu từ ly nước đó.
Bùi Việt Phương, tổ 4, phường Thịnh Lang, thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình.
(Vietimes)